Need help?

+84 976 132 697 gdgt.sproject@gmail.com

Liệu có nên áp dụng hình thức thiến hóa học ở Việt Nam

Theo báo cáo của Bộ Công an, 6 tháng đầu năm 2018, cả nước xảy ra 720 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hại tình dục trẻ em gồm 573 vụ, chiếm 79,5% tổng số vụ xâm hại trẻ em. Qua đó, lực lượng công an đã xác minh, điều tra xử lý hình sự 538 vụ với 579 đối tượng, xử lý hành chính 55 vụ và đang điều tra 127 vụ.

Thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) cũng cho biết, mỗi năm Việt Nam có khoảng 2.000 trẻ em bị xâm hại được phát hiện, trong đó trẻ em bị xâm hại tình dục chiếm hơn 60%. Những hành vi, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em chỉ khi chạm ngưỡng hình sự mới bị phát hiện, xử lý, do đó những con số được nêu ra có thể chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”.

Trước những con số rùng mình, gây chấn động về các vụ xâm hại trẻ em, có nhiều ý kiến cho rằng nên thực hiện “thiến hóa học” gắn chíp điện tử với các đối tượng ấu dâm

Liên quan đến đề xuất “thiến hóa học” đối với tội phạm ấu dâm, luật sư Lê Văn Luân ( Hà Nội) cho biết, về mặt sinh lý học thì việc “ái nhi” (tức có cảm xúc tính dục với trẻ em) giống như một loại bệnh lý mà chỉ cần có cơ hội (môi trường, hoàn cảnh) là sẽ dẫn đến việc thực hiện hành vi. Nếu muốn ngăn chặn hành vi buộc lòng phải “triệt” ham muốn này bằng chính biện pháp có nguồn gốc sinh lý học của nó.

“Vấn đề đảm bảo quyền con người, luôn có giới hạn đối với mỗi cá nhân, tuy nhiên, quyền con người còn phải được bảo vệ dựa trên cơ sở không bị đe dọa hay xâm hại từ người khác.Do vậy, việc “thiến hóa học” cũng là để đảm bảo quyền được bảo vệ, quyền bất khả xâm phạm của trẻ em về thân thể, nhân phẩm, danh dự và tính mạng, sức khỏe. Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là loại tội đặc biệt vì khả năng tái phạm nhiều lần không thể kiểm soát được.” – Luật sư Luân nói.

Đồng quan điểm trên, tiến sĩ Nguyễn Huy Quang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Y tế) cho biết, những người mắc phải bệnh lý ấu dâm chỉ có xu hướng tình dục đối với trẻ em. Là đối tượng dễ bị tổn thương về cả thể xác lẫn tinh thần nên việc đưa ra biện pháp “thiến hóa học” là cần thiết. “Ấu dâm là một dạng bệnh lý mãn tính ảnh hưởng đến suốt đời, rất khó để điều trị dứt điểm, liệu pháp tâm lý chắc chắn không thay đổi được bản năng tình dục. Nên theo tôi áp dụng hình thức “thiến hóa học” là cần thiết, tuy nhiên cần cẩn trọng khi thực hiện.” – Tiến sĩ Quang nói.

Trong khi đó, nhiều ý kiến trái chiều cho rằng thiến hóa học là “bước đường cùng”, không phải giải pháp tối ưu.

Nghiên cứu về thiến hóa học cho thấy có thể có tác dụng phụ về mặt sức khỏe phụ thuộc cơ địa từng người. TS Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội đặt câu hỏi: “Chúng ta chỉ được quyền làm mất ham muốn nhưng nếu họ có những tác dụng phụ như ung thư, mất khả năng lao động…, ai chịu trách nhiệm?”.

Đồng tình với quan điểm đó, LS Lại Xuân Cường (Đoàn LS TP. Hà Nội) đưa ra phân tích sâu dựa trên cơ sở pháp lý:

“Tại Việt Nam đề xuất này chưa phù hợp và không cần thiết. Bởi lẽ, hiện pháp luật xếp tội danh này vào chương 2, phần các loại tội phạm cụ thể. Tính chất nguy hiểm của nó chỉ sau chương về xâm phạm an ninh quốc gia. Theo Điều 142 BLHS 2015, mức phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình”.

LS Cường cho rằng, mục đích của hình phạt là sau khi người phạm tội thi hành xong bản án sẽ cải tạo, giúp người phạm tội hòa nhập với cộng đồng.

Gắn chip giám sát sau khi mãn hạn tạo mặc cảm tự ti, không còn khả năng hòa nhập, bất mãn với xã hội. Quan trọng hơn, gắn chíp phải đồng bộ với cơ sở vật chất hạ tầng, phải có một bộ phận máy móc, con người để theo dõi. Thực tế nước ta chưa thể đáp ứng nhu cầu này.